Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

CÁI TÔI SUY TƯ, CHIÊM NGHIỆM TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN (ThS. NGUYỄN VĂN HÒA)

Nhà thơ
Đoàn Thị Lam Luyến

Trước hiện thực cuộc sống đa diện, đa chiều, qua lăng kính của người nghệ sĩ hiện lên bức tranh đời sống với nhiều đa đoan, nhức nhối nhưng vẫn giàu niềm tin và khát vọng về thân phận và kiếp người. Lam Luyến thường nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người bằng những trải nghiệm đã chín thành cảm xúc. Bà đến với tình yêu bằng tình cảm chân thành, nồng hậu không hề so đo, tính toán điều gì. Yêu nhiệt thành, cháy bỏng đến tận cùng gan ruột. Vì theo bà con người ta sinh ra là để được yêu, tạo hóa sinh ra một người là để dành cho một người. Họ sẽ tìm thấy ở nửa kia những gì mà mình thiếu. Và như thế, họ sẽ thấy cần nhau hơn. Đối với bà, nửa còn lại mà mình suốt đời cất công tìm kiếm sẽ là tấm gương soi giúp bà hiểu mình hơn. 

Tình yêu sẽ làm con người trở nên cao cả và tốt đẹp hơn. Nếu cuộc đời không có tình yêu thì cuộc sống sẽ không có ý nghĩa gì nữa cả, cũng giống như cây không cho hoa thơm và trái ngọt. Nếu con người không có tình yêu, con người sẽ không có lý tưởng. Họ sẽ sống cho ai và hy sinh vì cái gì trong cuộc đời này? Bởi sự đơn độc sẽ khiến con người bất lực trước những thử thách của cuộc sống. Đoàn Thị Lam Luyến đến với tình yêu đầu đời là một quyết định đúng đắn, nhưng sau một thời gian ngắn bà cảm thấy không thể cùng người chồng ấy làm bạn đồng hành đi suốt cuộc đời. Và điều tất yếu, hiển nhiên bà đi tìm một tình yêu mới cho riêng mình nhưng rồi rốt cuộc vẫn thất bại và vẫn trở về với nỗi cô đơn. Sau những cuộc tình duyên ngắn ngủi ấy, Lam Luyến hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống và tình yêu. Bà nghiệm ra rằng: lòng tốt không duy trì được hạnh phúc gia đình, chỉ duy nhất tình yêu là cơ sở vững chắc nhất trong các chặng đường hôn nhân. Vì bà đã sống rất tốt, yêu hết mình nhưng đổi lại người tình của bà hờ hững, lạnh nhạt vì đó chỉ là tình yêu đơn phương. Để rồi bà phải chấp nhận những nỗi đau đời, đau tình luôn ám ảnh và đeo bám bà. 

Anh đến từ cõi mơ/ Làm tiêu tan cõi thực/ Những mật đắng tình yêu/ Chỉ còn trong ký ức/ Em giã từ cõi thực/ Để đi vào cõi mơ/ Tình bằng là con nhện/ lại cuống cuồng vương tơ (Cõi mơ, cõi thực).

Đau đớn về mặt thể xác chỉ là chuyện bề ngoài nhưng nỗi đau trong tâm hồn bị tổn thương mới là nỗi đau không dễ gì chữa lành được. Sau những lỗi lầm, thất bại và đổ vỡ trong tình yêu Lam Luyến đã thẳng thừng tuyên bố: 

Thì cứ say, cho xa đừng phải nhớ
Thì cứ điên, cho đổ vỡ đừng buồn
Vân cứ dại thêm một nghìn năm nữa
Cho mai ngày đôi lứa dịu dàng hơn
Điên để trắng và đen không đảo ngược
Điên để tình và hận mãi song đôi

Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng được bao nhiêu. Và sau mỗi lần cho như thế bà lại nhận lại những đau đớn, thất bại, xót xa về mình:

Ta đã gửi cho anh
Cả con tim dào dạt
Và anh trả cho ta
Nỗi buồn đau tan nát
(Gửi tình yêu)

Trong bài Vân dại, bà từng viết: Tình thật như cây để rồi nhận về Dối gian như lá. 
Những ảo tưởng trong tình yêu có thể đem lại cho Đoàn Thị Lam Luyến ít nhiều thi vị, ngọt ngào trong cảm xúc nhưng chính nó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ và thất bại đến nhói lòng. Nhà thơ giờ đây đã phải đối diện với một thực tế phũ phàng, bi đát và không kém phần ảo não, thương đau. Khi đó, thay vào cái nhìn lãng mạn hóa ban đầu là một cái nhìn trực diện, thực tế vào đời sống với một cảm hứng đầy tỉnh táo, khách quan. Người đọc sẽ nhận thấy rõ điều này thông qua việc Lam Luyến sử dụng những động từ như: biết, nhận biết, thức tỉnh, nhận ra…; và một loạt những tính từ: đau khổ, buồn nản, tàn tạ, ngậm ngùi, mệt mỏi, tan nát, dại dột, cô đơn, đắng cay, ngang trái, dang dở, đơn lẻ… Bên cạnh đó là những câu hỏi, những lời tự vấn đầy chua xót:

Ta lạc vào nhau đấy 
Hay tự lừa mình thôi ?
(Tuẫn tiết)

Túp lều còn trong ý tưởng
Bao giờ em được làm dâu?
(Bao giờ em được làm dâu)
Mùa xuân ở phía xa mù
Mà băng giá đợi bao giờ cho tan ?
(Em gái)

Quá khứ với hai lần nước mắt
Giọt lệ này ai chắc sẽ lau khô?
(Thế chấp)

Nước non xa thẳm mịt mờ
Xác đây, hồn cứ dật dờ những đâu?
(Cống hồ)

Trong một con mắt tỉnh táo, cái tình yêu được tô vẽ với bao ảo sắc thiên đường đã mất đi ánh hào quang giả dối của nó. Người đàn bà phải đối diện với sự thật đổ vỡ, dối lừa như: “Những nhát roi vào tim/ Cứ bầm bầm máu ứa”. Và cái tình yêu đầy ảo tưởng giờ đây chỉ còn lại những chua chát, bẽ bàng cùng cực: Càng say càng gặp tình vờ/ Non non nước nước lập lờ lứa đôi (Yêu để cho thơ), Đa tình liền với đa đoan/ Tơ duyên cứ nối lại càng đứt thêm (Tích tịch tình tang)… Tỉnh mộng, người đàn bà nhận ra cái tình yêu mà mình đắm đuối “cá cược” cả cuộc đời mình vào đó, thực chất chỉ là một hành động mù quáng không hơn : Em đương lấy sóng làm cầu/ Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền (Em gái)…

Người đàn bà có gia đình, đôi khi còn mềm lòng trước một tình cảm của kẻ khác giới, huống hồ Đoàn Thị Lam Luyến, kẻ tứ thời cô đơn! Nhưng bà cũng đủ tỉnh táo để hiểu rằng: anh chỉ vẽ vu vơ thôi, chả thành hình thù gì đâu.

Trong cái nhìn như thế, hình tượng người tình của bà cũng mất đi vẻ hào nhoáng, đẹp đẽ, trang trọng thuở ban đầu. Người đàn ông giờ đây hiện ra với những nét hết sức chân thực như họ vốn có, chân thực đến độ tầm thường, thậm chí đó là những kẻ không tốt. Là kẻ ham vui, yếu mềm và dễ sa ngã, đối lập hoàn toàn với người phụ nữ “dại yêu” kia: Khi em chờ mỏi mắt rồi/ Anh còn ở mãi phương trời nào đây/ Nơi nào anh cũng dễ say/ Nơi nào cũng sẵn vòng tay đợi chờ (Nhớ Hồ Xuân Hương). Người đàn ông ấy cũng là người nhạt nhẽo, đớn hèn, dối lừa, bạc bẽo, lợi dụng chứ không phải yêu đương thật lòng:

Em đam mê đến độ hững hờ/ Anh chầm bập như là yêu thật vậy/ Nhưng em biết em chỉ là trang giấy/ Lúc mềm lòng cho anh vẽ vu vơ (Khách mời). Dù hóa trang gương mặt mình khéo đến thế nào chăng nữa/ Anh vẫn là một Thúc Sinh thôi/ Kỷ niệm Lâm Truy, Kiều có phải báo ân đền nghĩa/ Anh cũng đã đem em đi bỏ chợ người (Kiều có ở trong em…

Nghiệm lại đời mình, với những gì đã làm, đã trải qua với những thăng trầm dâu bể, mất mát, tổn thương. Lam Luyến ý thức tìm lời giải đáp cho chính cuộc đời mình. Vì sao lại ra nông nổi thế, vì sao hạnh phúc không mỉm cười với mình, vì sao tình duyên cứ long đong, đứt đoạn?… Có lẽ là do bà, vì bà, vì sự ảo tưởng, non nớt, cả tin… vì sự dại dột và quá mù quáng. Tôi mơ tát cạn biển này/ Để tìm cho được những ngày đôi ta/ Nhưng rồi biển quá bao la/ Ai bảo làm nhà trên lưng cá voi! (Trên lưng cá voi).

Bên cạnh đó, còn có một nguyên nhân sâu xa làm cho bà đau khổ, bất hạnh, lầm lỡ… đó là do số phận. Trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến không khó để người đọc tìm ra những câu thơ, bài thơ suy ngẫm về số phận, duyên phận, phận trời, số trời, mệnh trời… Sinh em mẹ không sinh ngày/ Để em như kiếp trời đày thế gian (Tích tịch tình tang), Cái phận trước cái duyên sau/ Nào ai tính được dài lâu với trời (Chồng chị chồng em). Ông trời đem anh đến cho/ Một hôm ông giở lý do lại đòi/ Số cầm tinh con dã tràng/ Có viên ngọc cát biển mang đi rồi (Họa bố đánh rơi). Thương em, mẹ thường xa xót/ Số nó chồng con chẳng ra gì (Hát theo Thị Mầu). Khéo trò chơi của thượng đế đây mà/ Xin cẩn trọng trước điềm may số phận/ Ta chẳng muốn duyên mình lận đận (Thế chấp)…

Trong quan niệm dân gian, số phận như một sợi dây vô hình mà con người khó lòng thoát ra được. Với nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến, một người đàn bà tài sắc đa đoan, mạnh mẽ, sắc sảo thì số phận còn như một thử thách để qua đó bộc lộ và khẳng định được bản lĩnh cũng như nhân cách của bà. Điều này không ai muốn, mà cũng chẳng ai dại gì mà muốn, Đoàn Thị Lam Luyến cũng thế. Nhưng khi đứng trước những cảnh ngộ éo le, bất thường, đau đớn, những cảnh ngộ mang tên số phận, Lam Luyến không hề trốn tránh, mềm lòng, chùn bước, gục ngã mà bà đã dũng cảm đối diện và vượt lên bằng một thái độ ứng xử đầy mạnh mẽ và chủ động:

Đã không cải được mệnh trời
Sao đành nằm xuống đợi người cải cho
Chắc gì đã hết âu lo
Chắc gì trút được cánh cò đồng sâu!
(Trái buồn)

Khi tình yêu tan vỡ, khi bị dối lừa phụ bạc, người đàn bà thất tình chỉ còn thấy đắng cay, để rồi có lúc bà lại thảng thốt:

Đa tình liền với đa đoan
Tơ duyên cứ nối lại càng đứt thêm
(Tích tịch tình tang)

Ta vĩnh viễn mất đi một nửa
Và đơn côi chiếc bóng mãi trên đời
(Hai nửa)

Tuy vậy, sự sống không bao giờ chán nản ở con người đa tài, đa tình, đa đoan này. Dẫu thói đời đen bạc thế nào đi nữa bà vẫn khao khát đi tìm, vẫn dám thế chấp trái tim, vẫn muốn dấn thân cho một thiên tình cuối.

Dù sao Lam Luyến cũng đã vượt qua những đắng cay, vượt qua những mất mát đau thương và tin vào cuộc sống. Vẫn còn đó niềm tin vào tình yêu và hạnh phúc:

Tình yêu không là cuồng nhiệt
E khi sương gió lạnh lùng
Tình yêu không là dục vọng
Tự mình thiêu cháy như không
Tình yêu vẫn còn xa cách
Để mà đằm thắm nhớ mong
Tình yêu có lần khô khát
Cho mình tìm lạch nước trong
Tình yêu hôm nay là hạt
Sớm mai đã hóa thành rừng
Tình yêu với niềm bí ẩn
Đưa ta đến với vô cùng
(Tình yêu)

Khi nhận ra những “non dại” của chính mình, ấy là lúc Lam Luyến đã tự biết rút kinh nghiệm để mà sống ứng xử với đời và khi đó bà đã trở nên khôn ngoan hơn. Dưới con mắt của người từng trải, bà đang kiểm nghiệm lại cuộc đời mình với những được mất trong tình yêu và cuộc sống. Để rồi bà rút ra một điều rằng: những thất bại, đau đớn ê chề trong con đường tình ái kia là do bà quá ngây thơ, quá ảo tưởng. Nói cách khác là do bà quá cả tin và “dại dột”. Nhưng trong mắt của người đàn bà làm thơ thì bản thân sự “dại dột”, “dại yêu” kia cũng có một vẻ đẹp và ý nghĩa nhất định. “Đó là vẻ đẹp của của sự chân thành và đa cảm trong một tâm hồn chưa bị cuộc đời làm cho trơ lì, chai sạn. Mặt khác, trong sự “dại yêu” ấy, người ta còn nhận thấy một nhân cách, một bản lĩnh mạnh mẽ, cứng cỏi của một người đàn bà dám yêu hết mình và dám chấp nhận trước cuộc đời, trước số phận. Tính chất mới mẻ và hiện đại của hình tượng này bộc lộ rõ nét trong thái độ sống và cách ứng xử đó. Và có lẽ, đó cũng chính là điều cơ bản đã hóa giải sắc thái bi kịch trong hình tượng người đàn bà “dại yêu” của Đoàn Thị Lam Luyến” [66]. Những gì trải qua với cuộc đời bà, đó là những kinh nghiệm, bài học xương máu về lẽ sống, về tình yêu và cuộc đời. Vì thế, bà đã dặn dò đứa con gái của mình bằng những lời gan ruột của một người mẹ đã từng va vấp trên bước đường đời và mong con hãy nhận ra điều đó. Con hãy biết thân phận mình và con cũng hết sức cảnh giác, thận trọng trong việc lựa chọn người yêu. Vì cuộc đời này mấy ai biết được chữ ngờ, cuộc đời này nếu nhẹ dạ cả tin thì cũng dễ bị lọc lừa! đặc biệt là những kẻ dùng những lời lẽ đuờng mật…

Cải già khéo ủ thành dưa
Bưởi mong nắng rám, mía chờ hanh heo
Nhà nghèo xin giữ nếp nghèo
Cành cao xin chớ có trèo, sẩy chân.

Người hay cử chỉ ân cần
Ngọt ngon đầu lưỡi kẻo dân lọc lừa
Cuộc đời mẹ lắm bàn thua
Chỉ mong con có nước cờ chắc tay

Bà cũng nhận thấy sự mơ mộng, đa cảm, thiếu thực tế ở chính con người mình như một điểm yếu khó khắc phục: 

Quen sống với mộng mơ
Tim tôi đầy vọng ước
Chẳng yêu cây trên bờ
Chỉ say tình dưới nước
(Điểm hẹn)

Vì vậy nhiều lúc bà cũng tự an ủi và động viên cho chính mình, cho những việc làm của mình:

Dẫu không ra tới biển Đông
Thì làm con suối lượn dòng quanh đây
Không trăng để sáng đợi ngày
Làm vì sao nhỏ mọc dày trời xa
(Hát ru)

Khi đã ngoài bốn mươi, gặp “anh” cũng là dịp để hai cùng tựa nhau mà sống, mà sẻ chia, những niềm vui nỗi buồn của những tháng ngày đau khổ đã qua: Gặp anh trao trái tim buồn/ Hai thân phiêu bạt, hai hồn bơ vơ/ Để rồi quên hết ngày xưa/ Dối gian với những lọc lừa sẽ quên.
Có lúc Lam Luyến cũng tự biện luận rằng:

Em không là thánh thần/ Mới nhiều phen nông nổi/ Khi đã dấn thân yêu/ Biết đâu mà lọc lõi (Em không là thánh thần).

Nhưng cuối cùng nhà thơ vẫn thấy sự “dại dột” ấy như là một bản tính đã ăn sâu vào máu thịt mình, khó lòng cải đổi:

Bếp thoắt tro, thoắt lửa/ Biển thoắt đầy thoắt vơi/ Lại dễ dàng thổn thức/ Lại sẽ sàng khơi vơi (Tuổi bốn mươi).

Sau những thất bại trên con đường kiếm tìm hạnh phúc, đã có lúc bà phải thốt lên:

Nếu biết trước yêu nhau là tội lỗi
Thà quay về kiếp khác đợi đầu thai
Nếu biết trước chia ly không tránh khỏi
Thà xin cho thẳng bước tới tuyền đài.
(Nếu biết trước)

Bà đã đau xót và cảm thông nỗi đau của những người phụ nữ sinh và nuôi con một mình. Họ phải chịu đựng nhiều đau khổ, tai tiếng, những lời dị nghị, sự chê cuời:

Ông trời đem anh đến cho
Một hôm ông giở lý do, lại đòi
Bắc thang lên hỏi ông trời
Cho-lo liệu có thể đòi được không
(Hoạ bố đánh rơi)

Người đã đi qua những tháng năm không bình yên, để rồi lúc buồn nhất, cô đơn nhất bà cảm thấy ngậm ngùi. Vì rằng tình cảm chồng vợ ngày nào giờ đã không còn nữa, giờ chỉ còn trong niềm đau, đã không còn thương nhớ, nhưng vết thương lòng, vết sẹo của tình yêu sẽ không bao giờ xóa hết được:

Thời gian không ta vẫn chảy
Cuộc đời không ta vẫn vui
Còn đây vết thương rỉ máu
Lành da, vẫn sẹo muôn đời
(Vết thương)

Và có lúc Lam Luyến hoang mang, mệt mỏi, tự vấn bằng những lời lẽ đầy chua xót:

Sao ta cứ lầm hương
Với mùi thơm của lá
Lửa tình ta cố nhen
Khi tim người lạnh giá
(Trả ta về cô đơn)

Bà tự oán trách về quy luật nhân quả, tại sao niềm vui và hạnh phúc không đến với bà:

Em ở hiền
Em có ác chi đâu
Mà trời lại xui anh bắt đầu tình yêu với người con gái khác?
Có phải rượu đâu mà chờ cho rượu nhạt
Có phải miếng trầu
Đợi trầu dập mới cay
(Huyền thoại)

Với Đoàn Thị Lam Luyến, cái tôi suy tư, chiêm nghiệm của bà được soi rọi ở nhiều góc độ khác nhau, song đều biểu hiện trên cái nền tâm trạng buồn đau, ray rứt. Thơ bà bàng bạc những nỗi lo âu khi ý thức được giữa hạnh phúc và khổ đau, với những khao khát của hạnh phúc đời thường.

Có thể nói, Lam Luyến là một con người giàu nghị lực trước những bất hạnh nghiệt ngã của cuộc đời bà vẫn cố gắng chịu đựng, trong đau khổ bà biết vươn lên hy vọng và kiếm tìm niềm vui mới, hạnh phúc mới chứ không hoàn toàn tuyệt vọng.

Sau mỗi cuộc tình, Lam Luyến bình tĩnh như một luật sư trước tòa án của ái tình, cất lời biện hộ khá dông dài cho chính mình. Lời lẽ rất hay, thấu lý đạt tình nhưng sự thật cuộc đời không phải vậy. Đối với Lam Luyến, khoảng cách từ người tình thứ nhất đến người tình thứ hai xa vời vợi hơn là khoảng cách từ người tình thứ nhất đến người tình thứ mười:

Có đâu như số trời đày
Phong trần cả mấy vạn ngày thế gian
Đa tình liền với đa đoan
Tơ duyên cứ nối lại càng đứt thêm

Lam Luyến vô cùng xót xa, đau đớn sau mỗi cuộc tình tan vỡ. Và chính những lần chia ly ấy nó ám ảnh, đeo đuổi suốt cuộc đời bà:

Chia ly nào chẳng đớn đau
Đa mang một chốc để sầu vạn niên
Vạn lần thao thiết gọi tên
Vạn ngày chí dị, vạn đêm khứ hồi.
(Đa mang)

Trong hành trình kiếm tìm hạnh phúc của mình, sau bao sóng gió, bao thất bại Đoàn Thị Lam Luyến cũng đủ tỉnh táo để nhận ra những Trần Phương, Sở Khanh, Thúc Sinh... trong thời hiện đại:

Dù hóa trang gương mặt mình khéo thế nào đi chăng nữa
Anh vẫn là một Thúc Sinh thôi,
Kỷ niệm Lâm -Truy, Kiều có phải báo ân đền nghĩa
Anh cũng đã đem em đi bỏ chợ người.
(Kiều có ở trong em)

Dù biết rằng tình yêu khi không còn nữa thì đành phải chia tay. Đó là cách để tự giải phóng cho nhau. Nhưng Lam Luyến vẫn xót xa, ray rứt đến tội nghiệp:

Ra đi là nguyện ước
Trở lại là nguyện cầu
Còn lời chưa nói hết
Đành gửi lại trong nhau

Ta trồng mía hoa lau
Chăm lan mà tốt ngải
Nửa đời trong u mê
Nửa đời toàn chiến bại!
(Giọt hồng phút cuối)

Để rồi trong đau đớn tột cùng ấy, Đoàn Thị Lam Luyến phải tự nhận ra rằng:

Em như cơn gió lạc đường
Theo anh lỡ cả mười phương lấy chồng!

Đau đớn về mặt thể xác đã là điều đáng sợ nhưng đau đớn về mặt tâm hồn mới là điều đáng sợ hơn nhiều, đó là vết thương lòng không bao giờ lành được:

Lạ kỳ lại chẳng thấy đau
Chỉ nghe buốt một vùng sâu tâm hồn

Gặp chàng, yêu chàng tưởng là “siêu”, là lý tưởng... nhưng có “anh” lại là một gã tầm thường, rẻ tiền. Do vậy: Thương anh muôn kẻ ghét/ Yêu anh muôn kẻ cười.

Và cuối cùng tình yêu là một nghịch lý:

Chưa có anh ở đời/ Hồn em là tẻ nhạt/ Khi có anh ở đời/ Tim em thành tan nát (Có anh).

Những vần thơ giàu chất suy tư, chiêm nghiệm của Đoàn Thị Lam Luyến chính là những triết lý về tình đời, tình người. Đó cũng chính là những lời tự thú của bản thân về những gì đã trải nghiệm, gom nhặt được trong cõi nhân gian rộng lớn này: 

Chết quá khó với người bao ham sống
Mơ chi vàng hỡi kẻ dư gan
Để thành Phật trên tòa sen đâu dễ
Cả Thị Mầu, Thị Kính có chi oan!

Ngỡ một lần qua lửa để thành than
Đốt không hết cả hai cùng cháy dở
Một vạn ngày xây, một giờ phá bỏ
Hận vô cùng và giận đến nghìn sau
(Cháy dở)

Bằng tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, từ hình ảnh giọt mưa ngâu cũng gợi lên cho Lam Luyến bao nỗi niềm trắc ẩn:

Nước không có ở chỗ nguồn
Nước về chỗ trũng- chuyện muôn năm rồi
Đã hay ác địa, ác trời
Lại còn từ những bụng người ác ra
Chỉ nhìn gần, chẳng thấy xa
Tiêu như mẹ ghẻ, tiền là con chung
(Nghe giọt mưa ngâu)

Nhà thơ nhận ra sự ngắn ngủi của đời người trước sự trôi chảy của thời gian, những dâu bể của cuộc đời. Bà đã đi qua những năm tháng đau thương của dân tộc, cùng với sự mất mát và đau khổ của chính mình, Đoàn Thị Lam Luyến đã có những chiêm nghiệm về tình yêu và cuộc đời:

Ngày xưa người tốt thiếu gì
Ngày nay người tốt lấy chi làm bằng
Ra đường gặp phải Sở Khanh
Với muôn giọng hứa lấp bằng chông gai
Thúc Sinh chừng chẳng hiếm hoi
Còn Kim Trọng ở cao vời những đâu
Bao thân em gái sa lầu
Sao Từ Hải vẫn đi đâu, chẳng về!
(Người xưa)

Có thể nói, những vần thơ về cái tôi suy tư, chiêm nghiệm của Đoàn Thị Lam Luyến chính là hành trình đi tìm chân lý cuộc đời và gieo mầm cho những khát khao, hy vọng. Từ sự suy tư, chiêm nghiệm, suy nghĩ tận đáy sâu tâm thức của mình, Đoàn Thị Lam Luyến đã giúp cho bạn đọc soi mình qua những triết lý thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân ái:

Tre già đem uốn cong/ Càng tăng thêm sức nỏ/ Quá lứa măng lên ngồng/ Lũy thành xanh từ đó/ Trải qua nhiều bão tố/ Trái cây thêm ngọt lành/ Hạt chín từ trong quả/ Cây chóng bật mầm xanh/ Âm ỉ cháy bên trong/ Lửa không nhen thành ngọn/ Nhưng là lò nhiệt cao/ Sắt thép về tôi luyện/ Giàu có như lòng biển/ Mới đầy vơi thủy triều/ Lỡ thì tim con gái/ Càng dữ dội tình yêu (Tre già)./.

ThS. Nguyễn Văn Hòa
(Phú Yên-Cao học Văn học Việt Nam K13 - ĐH Quy Nhơn)




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét